Một số quan điểm phòng chống tấn công mạng và chiến tranh mạng

10:29 AM 08/12/2015

Cục An toàn thông tin xin giới thiệu Bài Tham luận của Ông Nguyễn Thanh Hải - Cục trưởng Cục An toàn thông tin về "Một số quan điểm phòng chống tấn công mạng và chiến tranh mạng"

Ông Nguyễn Thanh Hải - Cục trưởng Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông

1. Tổng quan

1.1. Khái niệm về chiến tranh thông tin trên mạng

Cho đến nay, các chuyên gia và các nhà lý luận quân sự trên thế giới vẫn chưa thống nhất được một định nghĩa chung về chiến tranh thông tin trên mạng (chiến tranh mạng). Tuy nhiên, từ các định nghĩa được chấp nhận, người ta thấy chiến tranh mạng có thể được xem xét theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp, ở cấp độ quốc gia và cấp độ quân sự.

Chiến tranh thông tin trên mạng theo nghĩa rộng là việc sử dụng thông tin trên mạng để đạt được mục đích quốc gia. Nó chỉ mọi hành động chiến tranh, phi chiến tranh do các trang bị công nghệ thông tin (CNTT) hoặc lực lượng sử dụng công nghệ thông tin tiến hành, trong đó hoạt động CNTT có tác dụng chủ yếu, thông tin chiếm vai trò chủ đạo. Nó không chỉ bao gồm lĩnh vực quân sự, mà còn gồm cả những lĩnh vực khác như chính trị, kinh tế, văn hoá, vật chất và tinh thần. Như vậy, chiến tranh mạng được hiểu là diễn ra trên “chiến trường”, trong đó xảy ra cuộc xung đột quốc gia với quốc gia ở cấp chiến lược và “các hoạt động khác với chiến tranh” cũng đang được thực hiện.

Chiến tranh mạng theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm sự đối kháng giữa các hệ thống thông tin quân sự. Trên thực tế, nếu xem xét phạm vi tác dụng thực tế của chiến tranh mạng tương lai, thì chiến tranh mạng không thể chỉ hạn chế ở những cuộc đối đầu trong lĩnh vực quân sự, mà nó sẽ thâm nhập vào mọi khía cạnh của đời sống xã hội, làm cho khái niệm và phạm vi chiến tranh mở rộng chưa từng có. Chiến tranh mạng sử dụng các phương tiện điện tử, mạng máy tính và cả các tác động tâm lý... để tiến công vào toàn bộ hệ thống thông tin, vũ khí thông tin hoá (bao gồm cả con người) phá hoại luồng thông tin chiến trường nhằm làm ảnh hưởng, suy giảm và phá huỷ khả năng chỉ huy kiểm soát của đối phương, đồng thời bảo vệ khả năng chỉ huy kiểm soát của mình khỏi bị ảnh hưởng bởi những hành động tương tự của đối phương.

1.2. Đặc tính của chiến tranh thông tin trên mạng

Trong quá trình nghiên cứu các phương thức và các phương tiện tác chiến trong chiến tranh thông tin trên mạng gần đây và trong tương lai, các chuyên gia cho rằng, chiến tranh thông tin trên mạng cấp chiến lược có 7 đặc tính cơ bản sau:

- Chi phí tham chiến thấp

Khác với các công nghệ vũ khí truyền thống, các hệ thống thông tin và khả năng tiếp cận nhiều mạng thông tin quan trọng là điều kiện tiên quyết trong chiến tranh thông tin trên mạng. Đối phương có thể chỉ sử dụng một lực lượng nhỏ, thậm chí một chuyên gia tin học, với trang bị gọn nhẹ, bí mật thâm nhập vào mạng của đối phương tiến hành sao chép, làm sai lệch, giả mạo các thông tin, cài virus... thực hiện tác chiến “phi đối xứng”.

- Các ranh giới truyền thông bị xoá nhoà:

Việc phân biệt các nguồn đe dọa và hành động giữa ngoài nước và trong nước sẽ gặp nhiều khó khăn. Không thể xác định ai là kẻ tiến công, ai là người bị tiến công, bởi các luồng thông tin đan xen nhau, không phân chia ranh giới, không rõ nơi xuất phát.... Các ranh giới giữa các mức độ chống phá nhà nước, vi phạm an ninh quốc gia... bắt đầu bằng hoạt động tội phạm cho tới gây ra chiến tranh sẽ không còn rõ ràng.

- Vai trò quản lý thông tin được tăng cường:

Các tổ chức thù địch có thể sử dụng các mạng máy tính, đặc biệt là Internet để yêu cầu trợ giúp chính trị, đưa ra các yêu sách, gây thù hằn sắc tộc, chia rẽ sự đoàn kết các dân tộc trong một quốc gia. Chính vì vậy, mỗi quốc gia phải quản lý chặt chẽ các nguồn thông tin, các biện pháp kiểm duyệt thông tin để đảm bảo sự ổn định mọi mặt của đất nước.

- Thách thức mới về tình báo chiến lược:

Các mục tiêu thu tin khó xác định, việc phân bố các nguồn tin tình báo sẽ phức tạp do sự thay đổi nhanh chóng của bản chất mối đe doạ.... Vì vậy, các quốc gia phải cơ cấu lại vai trò, nhiệm vụ của các cơ quan tình báo; xây dựng một cơ cấu tổ chức liên cơ quan nhằm phối hợp thu, sàng lọc và xử lý các nguồn tin nước ngoài và trong nước kịp thời, linh hoạt và chính xác.

- Khó giải quyết các vấn đề tiến công và cảnh báo chiến thuật:

Hiện nay vẫn chưa có một hệ thống cảnh báo chiến thuật tương xứng, để phân biệt các cuộc tiến công chiến tranh thông tin trên mạng chiến lược với loại hình hoạt động gián điệp hoặc các sự cố ngẫu nhiên (sự cố bất trắc, trục trặc hệ thống, truy cập trái phép...) trong không gian mạng. Việc xác định được các vấn đề: khi nào bị tiến công, ai tiến công, tiến công thông tin được tiến hành như thế nào, cần có sự hợp tác giữa các quốc gia như thế nào....

- Khó xây dựng và duy trì các liên minh:

Nhiều đồng minh và đối tác liên minh của một quốc gia sẽ bị tổn thương khi các cơ sở hạ tầng thông tin của họ bị tiến công. Ví dụ, sự phụ thuộc vào các dịch vụ điện thoại và mạng máy tính ở các nước đang phát triển có thể làm cho hệ thống truyền thông hiện đại ở các nước này bị tê liệt trước cuộc tiến công của chiến tranh thông tin trên mạng. Những đối tác liên minh cần phải có phương án hỗ trợ khẩn cấp về quân sự, để đảm bảo kế hoạch triển khai của một quốc gia tới khu vực của họ mà không bị tổn hại trước sự phá hoại của chiến tranh thông tin trên mạng.

- Khả năng bị tổn hại của một nước có cơ sở hạ tầng thông tin phát triển:

Nhờ có các kỹ thuật dựa trên cơ sở thông tin, các mục tiêu ở rất xa cũng dễ dàng bị tổn thương như các mục tiêu ngoài chiến trường. Kinh tế và xã hội của các nước phát triển ngày càng phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng thông tin. Đặc biệt, các hệ thống điều khiển kết nối mạng phức hợp đã tạo ra một loạt các mục tiêu chiến lược mới có lợi cho các đối thủ tiềm tàng có trang bị vũ khí chiến tranh thông tin trên mạng. Đối phương có thể thực hành tiến công phá hoại tại các nút của mạng máy tính (tiến công vật lý) hoặc thực hiện tiến công lôgic, sử dụng các vũ khí thông tin như virus, thư điện tử, thư rác điện tử... đột nhập vào mạng để ăn cắp, sao chép thông tin....

2. Quan điểm của một số quốc gia về chiến tranh thông tin trên mạng

Do các đặc tính cơ bản của chiến tranh thông tin trên mạng ở trên, nên tuỳ thuộc vào lợi ích quốc gia và khả năng ứng phó với chiến tranh thông tin trên mạng mà các “cường quốc quân sự” có quan điểm khác nhau về chiến tranh thông tin trên mạng.

2.1. Quan điểm của Mỹ

Mỹ tái khẳng định rằng những nguyên tắc hiện hành của luật quốc tế phù hợp với khung để quản lý việc sử dụng không gian mạng cho hoạt động đối địch. Trong đệ trình cho GGE năm 2010, Mỹ đã phác thảo ra hai luật liên quan tới vấn đề này: Jus ad bellum (dùng quyền chiến tranh để quyết định) (khung nhấn mạnh, đặc biệt là sử dụng vũ lực cho quyền tự vệ của một quốc gia) và Jus in bello (luật quy định về những hành động trong xung đột quân sự).

Jus ad bellum: trong một số hoàn cảnh, một hoạt động gián đoạn trong không gian mạng có thể dẫn tới một cuộc tấn công quân sự theo nghĩa của Điều 51 của Hiến chương UN. Trên thực tế rất khó đạt được một kết luận hoặc nhất trí pháp lý giữa các nước trong những hoàn cảnh mà cuộc tấn công mạng có thể dẫn tới tấn công quân sự không thể đề xuất một khung pháp lý cụ thể mới cho không gian mạng. Với những ý nghĩa không minh xác như vậy phản ánh những nguy cơ trong việc áp dụng khung Hiến chương UN đã tồn tại trong nhiều lĩnh vực. Trong nhiều trường hợp, một hoạt động mạng bị gián đoạn nằm dưới ngưỡng của một cuộc tấn công quân sự, các nước có thể dùng những biện pháp phản ứng phù hợp, ví dụ, các cơ quan hành pháp hoặc các đối pháp theo luật được áp dụng phụ thuộc vào hoàn cảnh.

Như Mỹ đã lưu ý trong bản đệ trình GGE, năm 2010, những nguyên tắc dưới đây có thể áp dụng cho xung đột quân sự, cho dù nó có xuất phát từ không gian mạng hay không:

- Quyền tự vệ chống lại cuộc tấn công quân sự mạnh hoặc thực cho dù kẻ tấn công là một quốc gia hoặc không phải là một quốc gia.

- Giới hạn sử dụng vũ lực khi tự vệ đối với những gì là cần thiết và phù hợp với mức độ hoặc thực tế.

- Các quốc gia có quyền dùng mọi biện pháp cần thiết để bảo đảm những kẻ khủng bố không sử dụng các quốc gia khác hoặc quốc gia trung gian cho mục đích hoạt động quân sự chống lại nước khác và những lợi ích của họ.

Mỹ khẳng định lại rằng Chiến lược quốc tế đối với không gian mạng bảo đảm đối phó với những hành động thù địch trong không gian mạng trên cơ sở những nguyên tắc như vậy sẽ áp dụng cho bất cứ nguy cơ nào đối với lợi ích của Mỹ. Trung thành với quyền tự vệ quốc gia, đối phó với những nguy cơ như vậy gồm tất cả những biện pháp cần thiết như ngoại giao, tình báo, quân sự và kinh tế phù hợp và kiên định với luật quốc tế có thể áp dụng, để bảo vệ những lợi ích của Mỹ, những đồng minh và đối tác của Mỹ. Dùng các hoạt động quân sự để tự vệ không bao giờ là nhẹ nhàng. Nước Mỹ sẽ cân nhắc mọi lựa chọn trước khi dùng vũ lực quân sự; hết sức thận trọng về những chi phí và rủi ro của những hoạt động đó, và hành động theo con đường phản ánh được những giá trị Mỹ và tăng cường tính hợp pháp của Mỹ, tìm kiếm sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế nếu có thể.

Nguyên tắc khu biệt

Nguyên tắc khu biệt yêu cầu các cuộc tấn công phải được giới hạn theo mục tiêu quân sự và rằng nhân dân và các mục tiêu dân sự không phải là mục tiêu tấn công. Mục tiêu quân sự phải được khu biệt từ các mục tiêu dân sự, và nó phải được bảo vệ trước các cuộc tấn công. Một mục tiêu quân sự được hiểu là một mục tiêu có đóng góp hiệu quả cho hành động quân sự và phá hủy nó có thể tạo ra lợi thế quân sự. Vấn đề những công cụ mạng được sử dụng trong xung đột quân sự, nguyên tắc khu biệt yêu cầu hậu quả của cuộc tấn công phải gây hại cho một mục tiêu quân sự.

Một thách thức cần lưu ý ở đây là xuất phát từ thực tế hạ tầng thông tin thường được sử dụng chung giữa quân sự, tư nhân và cộng đồng dân sự. Mặc dù có những câu hỏi tổ hợp về phân tích như thế nào đối với việc song dụng hạ tầng thông tin như thế, luật chiến tranh đòi hỏi hạ tầng dân sự không nên được sử dụng nhằm tìm kiếm sự miễn trừ tấn công vào mục tiêu quân sự, bao gồm cả phạm vi mạng. Luật xung đột quân sự cấm việc sử dụng mục tiêu dân sự để bảo vệ mục tiêu quân sự khỏi bị tấn công. Đây là một vấn đề động, ở đó không đủ luật để sử dụng dân sự bảo vệ mục tiêu quân sự tránh khỏi bị tấn công, trong lĩnh vực mạng không thể cho phép sử dụng hạ tầng dân sự để bảo vệ mục tiêu quân sự lồng ghép trong đó tránh khỏi bị tấn công.

Hệ quả thêm là nguyên tắc khu biệt về cấm tấn công không lựa chọn có thể được xác định gồm những cuộc tấn công triển khai một cách hoặc một phương pháp của chiến tranh tự nhiên là không trực diện vào một mục tiêu quân sự cụ thể, hoặc không thể kiểm soát được hậu quả của nó. Vũ khí không trực tiếp vào một mục tiêu quân sự cụ thể hoặc không thể kiểm soát được hậu quả của nó sẽ không thể khu biệt được. Mà về bản chất là chưa đầy đủ luật về xung đột quân sự. Một vấn đề động nữa là khu biệt cố hữu như thế và vũ khí không theo luật như vũ khí sinh học. Tất nhiên, các loại công cụ mạng ở trong thế giới mạng liên kết với nhau, thì việc khu biệt cố hữu này sẽ không thể dự đoán và kiểm soát được hậu quả của nó; một loại vi rút phá hủy có thể phát tán không kiểm soát được trong hệ thống liên mạng dân sự nằm trong danh mục này. Những cuộc tấn công sử dụng các công cụ như vậy có thể bị cấm theo Luật chiến tranh.

Nguyên tắc ngang bằng

Nguyên tắc ngang bằng cấm các cuộc tấn công gây nên tổn thất phụ cho đời sống dân sự, tổn hại tới nhân dân, hoặc gây hại cho mục tiêu dân sự, điều đó được xem là quá mức trong mối quan hệ với lợi thế quân sự cụ thể và trực tiếp. Các bên tham gia vào xung đột quân sự phải đánh giá những thiệt hại gì tương tự đối với nhân dân, và cân nhắc rủi ro về thiệt hại so với mục đích quân sự cần đạt được. Trong lĩnh vực mạng, quy định này yêu cầu các bên tham gia vào xung đột quân sự đánh giá hậu quả của vũ khí mạng ở cả hạ tầng quân sự và dân sự và người sử dụng, gồm cả hạ tầng hữu hình chung mà nó ảnh hưởng tới người dân. Hơn nữa, một cuộc tấn công mạng có thể gây nên thiệt hại hữu hình tiềm ẩn như chết và thiệt hại, các bên phải đánh giá các hậu quả tiềm ẩn của tấn công mạng vào các máy tính không phải là mục tiêu quân sự, như máy tính của tư nhân, người dân không có gì là điển hình của quân sự nhưng có thể được kết nối vào mục tiêu quân sự. Việc “song dụng” hạ tầng đặt ra nhiều câu hỏi phức tạp, các bên nên cân nhắc thiệt hại đối với dân sự khi sử dụng hạ tầng như vậy đang tạo một cái nhìn nhận ngang bằng cần thiết.

Ngoài ra, luật chiến tranh yêu cầu các nước tham chiến có những dự phòng thực tiễn, có những cân nhắc giữa quân sự và nhân đạo, tránh và tối thiểu cái chết vô ích, tổn thất và nguy hại cho người dân và mục tiêu dân sự. Với những hoạt động thù địch bao hàm công nghệ thông tin trong xung đột quân sự, các bên đối với xung đột nên có những dự phòng để tối thiểu hóa những thiệt hại của những hoạt động mạng như vậy cho hạ tầng dân sự và người sử dụng.

Khai thác mạng mà kết quả không đoán được hoặc hậu quả chính phản có thể là một công cụ quan trọng tạo ra những lựa chọn tối thiểu hóa thiệt hại không cần thiết cho người dân. Trong mối tương quan này, khả năng mạng trong một số hoàn cảnh có thể được yêu thích hơn, như vấn đề chính sách, đối với những vũ khí khó đoán vì hậu quả của nó có thể là chính hoặc phản, và chúng có thể ẩn chứa để hoàn thành mục đích quân sự mà không có hậu quả phá hoại động.

Phục thẩm pháp lý về vũ khí.

Tuân theo luật xung đột quân sự, Mỹ đồng ý ở hai trạng thái phục thẩm pháp lý về việc dùng vũ khí trong xung đột quân sự.

Thứ nhất: Mỹ xem xét đánh giá những vũ khí mới và khả năng quân sự đối với việc liệu họ sử dụng về bản chất có bị luật chiến tranh cấm. Theo cách này, Mỹ thừa nhận rằng vũ khí và công nghệ được phép xây dựng và phát triển, nhưng những nguyên tắc của luật chiến tranh tiếp tục được áp dụng cho những khả năng mới. Phục thẩm như thế dẫn tới phân tích, ví dụ liệu một khả năng tương tự có thể là khu biệt cố hữu.

Thứ hai: Mỹ phục thẩm triển khai những vũ khí tương thích với luật chiến tranh. Khai thác vũ khí quân sự cụ thể được xem xét riêng rẽ nhằm bảo đảm rằng mỗi hoạt động như vậy luôn tuân theo những nguyên tắc của luật xung đột quân sự đã thảo luận ở trên.

Chính phủ Mỹ tiếp tục xem xét khả năng phục thẩm dùng các vũ khí đối với không gian mạng, và xem xét tính năng mạng phù hợp với khung này.

Lãnh thổ và tính trung lập

Cuối cùng là vấn đề lãnh thổ quốc gia, giữa các nguyên tắc pháp lý quốc tế ổn định lâu dài khác, phải đưa vào trong các hoạt động không gian mạng, bao gồm cả bên ngoài xung đột quân sự. Bởi vì liên kết, ảnh hưởng lẫn nhau một cách tự nhiên của không gian mạng, hoạt động khai thác hạ tầng thông tin đã nối mạng trong một quốc gia có thể ảnh hưởng tới nhiều nước trên thế giới. Trong vấn đề xung đột quân sự quốc tế, luật mang tính trung lập điều chỉnh quan hệ giữa các nước giao chiến và các nước trung lập, có thể cần được cân nhắc liệu các nước tham chiến triển khai tấn công mạng chống lại một nước khác có bao hàm ý tứ quyền và trách nhiệm của các nước trung lập.

2.2. Quan điểm của Nga

Chiến tranh thông tin trên mạng là một trong ba ưu tiên của Nga trong lĩnh vực quốc phòng, song song với các lực lượng hạt nhân chiến lược và phát triển vũ khí dẫn đường chính xác.

Các chuyên của gia Nga cho rằng, những khái niệm của Mỹ về an toàn không gian mạng chủ yếu hướng về công nghệ, trong khi những khái niệm của Nga về “an toàn thông tin” và “không gian thông tin” có những ý nghĩa rộng hơn về triết học và chính trị. Công nghệ được thừa nhận chỉ như là một trong nhiều thành phần trong an toàn thông tin và không được xem như là yếu tố quan trọng nhất.

Những mục tiêu được Nga nêu ra trong khái niệm thông tin của mình là việc bảo vệ tri thức, văn hóa của quốc gia và việc đảm bảo dòng chảy tự do của thông tin.

Học thuyết An toàn thông tin của Nga đã được phê chuẩn vào tháng 9/2000, đã định nghĩa An toàn thông tin như là “sự bảo vệ những lợi ích quốc gia của Nga trong môi trường thông tin được xác định bằng tổng thể các lợi ích được cân bằng đối với cá nhân, xã hội và nhà nước”. Nó bao quát các vấn đề về bảo vệ dữ liệu, sự riêng tư cá nhân và việc thâm nhập vào các thông tin bí mật và truy cập tới thông tin của nhà nước. Năm 2010, Chính phủ Nga đã xác định 4 mục tiêu trọng tâm của chính sách thông tin nhà nước, bao gồm:

- Phát triển một hệ thống các giá trị cho xã hội Nga;

- Đảm bảo sự hỗ trợ các hoạt động của nhà nước từ quan điểm của quốc gia và quốc tế (hỗ trợ công khai đối với chính sách của nhà nước);

- Chống lại các hệ tư tưởng phá hoại, chủ nghĩa cực đoan về tôn giáo, và thông tin đánh lạc hướng về các chính sách nhà nước (các khía cạnh thông tin chính trị);

- Chống lại phá hoại sự ổn định và hoạt động an toàn của hạ tầng thông tin quốc gia (bao gồm các khía cạnh quân sự, công nghệ và chính trị).

Để xây dựng một hiệp định quốc tế, theo quan điểm của Nga, cần hạn chế hoặc ràng buộc sự phát triển, hoặc sử dung rộng rãi các vũ khí tấn công KGM. Hiệp định này phải giải quyết được mối đe dọa của các cuộc tấn công KGM và ngăn ngừa một “cuộc chạy đua vũ trang số”. Hiệp định này cũng phải thống nhất được định nghĩa về “sự xâm lược trong không gian mạng” và về các “vũ khí thông tin”.

2.3. Quan điểm của Trung Quốc

Trung Quốc đưa ra quan điểm thể hiện ở 4 ý:

(1). An ninh

-Tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và những quy phạm đã được thừa nhận để điều chỉnh các mối quan hệ quốc tế;

-Không sử dụng công nghệ thông tin bao gồm cả mạng, thực hiện các hành vi đối địch hoặc các hành động xâm lược, tạo nguy cơ cho hòa bình và an toàn quốc tế;

-Giải quyết mọi tranh chấp bằng biện pháp hòa bình không được dùng vũ lực.

(2) .An toàn

-Tái khẳng định tất cả quyền và trách nhiệm bảo vệ của các quốc gia phải phù hợp với luật và quy định liên quan tới không gian thông tin của họ và hạ tầng thông tin quan trọng tránh khỏi những nguy cơ, phá hoại, tấn công và hoạt động hủy hoại;

-Phải đảm bảo an toàn cho chuỗi sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin để ngăn chặn các nước sử dụng nó cho mục đích ngầm chống lại nước khác.

(3). Công khai

Tôn trọng đầy đủ quyền và tự do trong không gian thông tin, gồm có quyền tự do tìm kiếm, thu thập và tán phát thông tin phù hợp với luật và quy định của quốc gia đó.

(4). Hợp tác

-Tăng cường hợp tác song phương, khu vực và quốc tế, thúc đẩy vai trò quan trọng của Liên hợp quốc trong việc xây dựng quy phạm quốc tế, giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế;

-Hợp tác chống lại các hoạt động tội phạm và khủng bố;

-Giúp đỡ các nước đang phát triển xây dựng năng lực và thu hẹp khoảng cách số.

3. Các khuyến nghị, đề xuất về chủ trương ứng phó chiến tranh thông tin trên mạng

Hiện tại, không xuất hiện một tiềm ẩn nào cho một điều ước không gian thông tin đa phương toàn diện. Tuy nhiên, thời gian đang tới cho các nước trong cộng đồng quốc tế đồng ý về một bộ luật dẫn đạo cho hành vi có thể chấp nhận được của các nước trong không gian thông tin. Ở phần đầu tiên, bộ luật này có thể tái tuyên bố về những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế áp dụng cho không gian thông tin, như chủ quyền quốc gia, cấm bạo lực, quyền tự vệ và nhân quyền cơ bản và Luật nhân đạo. Phần thứ hai của bộ luật có thể cung cấp danh sách không ràng buộc về hướng dẫn kinh nghiệm tốt và trợ giúp các nước trong việc làm phù hợp những cam kết pháp lý hiện tại của họ trong không gian thông tin.

Đây có thể là một quyết định đầu tiên, và đồng thời, từng bước hiện thực hóa hướng tới xây dựng luật trong không gian thông tin, do đó chúng ta đang có một cống hiến vô giá cho toàn nhân loại.

Tài liệu tham khảo

[1] Các đặc tính cơ bản của chiến tranh thông tin - Tạp chí an toàn thông tin.

[2] Carr, Jeffrey. (2010). Inside Cyber Warfare: Mapping the Cyber Underworld. O'Reilly.

[3] Cordesman, Anthony H., Cordesman, Justin G. Cyber-threats, Information Warfare, and Critical Infrastructure Protection, Greenwood Publ. (2002).

[4] Gaycken, Sandro. (2012). Cyberwar – Das Wettrüsten hat längst begonnen. Goldmann/Randomhouse.

[5] Geers, Kenneth. (2011). Strategic Cyber Security. NATO Cyber Centre. Strategic Cyber Security.

Nguyễn Thanh Hải

Cục trưởng Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông

Vui lòng nhập email của bạn để đăng ký nhận cảnh báo an toàn thông tin từ Cục An toàn thông tin.

Danh sách website bị tấn công được ghi nhận bởi Cục An toàn thông tin